Mức xử phạt về tội giết người theo bộ luật hình sự năm 2015
Mức xử phạt về tội giết người theo bộ luật hình sự năm 2015

Những mức xử phạt về tội giết người theo bộ luật hình sự năm 2015 được quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015. Đã được sửa đổi và bổ sung vào năm 2017 (gọi tắt là BLHS năm 2015). Giết người là hành vì cố gây ra cái chết cho người khác một cách trái pháp luật do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ 14 tuổi trở lên thực hiện.

Tội giết người theo quy định của BLHS năm 2015

Bộ luật hình sự năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 1/1/2018) đã quy định rõ. Những người nào giết người thuộc một trong các trường hợp dưới đây, thì sẽ bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc án tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

1. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm.

2. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 1 năm đến 5 năm.”

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm.

Theo đó mức án cụ thể khi phạm tội giết người là bao nhiêu năm tù? Sẽ phụ thuộc rất nhiều vào các tình tiết tăng giảm hay tình tiết định khung như thế nào trong quá trình thực hiện hành vi trái pháp luật.

Phân tích tội giết người theo pháp luật hình sự

Xét dưới góc độ của cấu thành tội phạm thì tội giết người sẽ phải thỏa mãn các điều kiện sau đây:

Mức xử phạt về tội giết người theo bộ luật hình sự năm 2015 ảnh 1
hành vi giết người (ảnh minh họa)

Mặt chủ quan của tội phạm

Lỗi của người phạm tội phải là cố ý. Có thể đó là cố ý trực tiếp hay cố ý một cách gián tiếp.

+ Lỗi cố ý trực tiếp: Người phạm tội đã thấy trước được hậu quả chết người có thể xảy ra. Nhưng vì mong muốn hậu quả đó xảy ra nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Một số ví dụ như dùng súng bắn vào đầu người khác, dùng dao đâm nhiều nhát vào cổ hay tim người khác dẫn đến tử vong. Nếu đã biết trước được hậu quả chết người mà vẫn thực hiện hành vi phạm tội thì sẽ được quy định là lỗi cố ý trực tiếp.

+ Lỗi cố ý gián tiếp: Người phạm tội có thể nhận thức được hành vi của mình có thể xảy gây nguy hiểm đến tính mạng người khác, thấy trước được hậu quả chết người có thể xảy ra. Nhưng để đạt được mục đích của bản thân nên đã có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra (có ý thức chấp nhận hậu quả đó). Ví dụ nhưng trường hợp dù biết rõ nạn nhân không biết bơi nhưng vẫn cố ý xô ngã xuống sông, kênh ao hồ những chỗ nước ngập sâu dẫn đến tình trạng khiến nạn nhân chết đuối. Những hành vi mặc dù biết trước hậu quả chết người có thể sẽ xảy ra, có ý thức nhận định được hậu quả đó nhưng vẫn để mặc cho nó xảy ra sẽ được quy đinh là lỗi cố ý gián tiếp theo quy định của pháp luật.

Mặt khách quan của tội phạm

Những hành vi khách quan của tội giết người có thể là hành động như: bóp cổ, bẻ cổ , bịt miệng, đấm đá.. hay có thể là sử dụng vũ khí hay các chất độc hại khác để tác động lên người khác (đâm, chém, bắn hoặc bỏ thuốc độc v.v). Ngoài ra còn là một số hành vi có thể là do không hành động. Đó là một số trường hợp chủ thể có nghĩa vụ phải buộc hành động để đảm bảo sự an toàn về tính mạng cho người khác, nhưng chủ thể đã không thực hiện những hành động đó và đó chính là nguyên nhân dẫn đến cái chết của nạn nhân. Một số ví dụ như: Thấy người khác rơi xuống sông nhưng chưa chết mặc dù chủ thể biết bơi và có những vật cứu hộ gần đó như phao v.v, nhưng chủ thể đã không để ý xem như không có chuyện gì xảy ra. Đây là trường hợp giết người do không hành động. Hành vi giết người còn có thể thực hiện thông qua hành động của người không có năng lực trách nhiệm hình sự. Ví dụ như: Một người đã tưởng thành đủ tuổi để chịu trách nhiệm hình sự nhưng lại xúi giục một cậu bé dưới 14 tuổi thực hiện hành vi giết người. Thì hành vi xúi giục đó được coi là hành vi giết người và người có hành vi đó là người thực hành trong tội giết người.

Chủ thể phạm tội

Theo quy định của Bộ luật hình sự, Chủ thể của tội giết người là chủ thể thường, nghĩa là những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định đều có khả năng trở thành chủ thể của tội giết người. Thì người từ đủ 14 tuổi trở lên là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. Đối với người từ 16 tuổi trở lên: là người sẽ chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

Khách thể của tội phạm

Khách thể của tội giết người là quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người (đang sống). Lưu ý: Thai nhi không được xem là một con người đang sống cho đến khi được sinh ra và còn sống. Nếu việc “giết” chết một bào thai thì sẽ không được xem là hành vi giết người mà đây chỉ được xem là một hành vi cố ý gây thương tích hoặc là tình tiết tăng nặng trong các trường hợp giết người phụ nữ mặc dù biết rõ người này đang có thai.